BSC phù hợp với mô hình doanh nghiệp nào? Doanh nghiệp nào đã thành công với BSC?

Theo thống kê của Hiệp hội BSC Hoa Kỳ, hiện nay 65% trong số 1000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới đã ứng dụng BSC vào quản trị chiến lược. Tại Việt Nam, phải đến năm 2010, khái niệm BSC mới thực sự được nhiều doanh nghiệp áp dụng với tư cách là một công cụ quản trị.

1. BSC được 65% doanh nghiệp trên thế giới áp dụng

Theo thống kê của Hiệp hội BSC Hoa Kỳ, hiện nay 65% trong số 1000 doanh nghiệp lớn nhất thế giới đã ứng dụng BSC vào quản trị chiến lược. BSC được đánh giá là một trong 75 phát minh có hiệu quả nhất về quản trị công ty. Ra đời từ năm 1990, sau 21 năm phát triển, BSC đã xuất hiện tại gần 100 quốc gia.

Trong thực tế, Thẻ điểm cân bằng đã phát triển từ một hệ thống đo lường được cải tiến thành một hệ thống quản lý cốt lõi. Tóm lược những phát triển này được đăng trên tờ báo Harvard Business Review số tháng 1 và tháng 2 năm 1996 với tiêu đề “Sử dụng Thẻ điểm cân bằng như một hệ thống quản lý chiến lược. 

BSC là từ viết tắt của thuật ngữ Balanced Scorecard. Dịch sang tiếng Việt, BSC có nghĩa là thẻ điểm cân bằng, thẻ cân bằng điểm . BSC giúp doanh nghiệp cụ thể hóa mục tiêu, chiến lược của mình. Tổng quan, BSC là:

- Một hệ thống quản lý

- Một hệ thống đo lường

- Một công cụ trao đổi thông tin

Ngoài ra, BSC còn là nơi cung cấp thông tin nhanh chóng về tiến trình thực thi các mục tiêu cụ thể. BSC là bộ khung xương, là nền tảng để giúp đánh giá hiệu suất của tổ chức. Nó giúp doanh nghiệp quản trị chiến lược và đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời. Mục đích ban đầu của BSC chính là cân bằng các chỉ số tài chính với định hướng giá trị trong tương lai của đơn vị.

Năm 2003, Học viện BSC Hoa Kỳ ra đời nhằm đào tạo chuyên gia, tư vấn và thiết lập hệ thống BSC trên nhiều quốc gia. Năm 2010, tổng thống Mỹ Barack Obama khuyến khích các tổ chức phi lợi nhuận, quản lý công tại Mỹ và các dự án nhận tài trợ ODA của Mỹ nên ứng dụng BSC vào quản trị.

2. BSC được áp dụng tại nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam các loại hình doanh nghiệp hợp pháp khá đa dạng.  BSC phù hợp với đa số các mô hình doanh nghiệp từ doanh nghiệp tư nhân,  Công ty TNHH,  Công ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh...

Đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam, để áp dụng BSC hiệu quả còn có nhiều công cụ đi cùng hỗ trợ, cụ thể là:

2.1. Công Cụ CCSC là gì? Và để làm gì?

CCSC - Central Control System of Company có nghĩa là bộ điều khiên trung tâm doanh nghiệp. CCSC là công cụ giúp hội đồng quản trị có thể giao trách nhiệm chi phí hiệu quả và hạn mức cho CEO. Từ CCSC sẽ bao gồm cả chiến lược của doanh nghiệp bao gồm chiến lược về doanh thu, về con người, sản phẩm và thị trường...

2.2. Công Cụ CCSD là gì? Ứng dụng như thế nào?

CCSD - Central Control System of Department có nghĩa là bộ điều khiên trung tâm phòng ban. CCSD sẽ giúp CEO có thể cài chiến lược đến từng bộ phận phòng ban thông qua các chỉ số: Trách nhiệm, Hạn mức, Chi phí vận hành và Quỹ lương thưởng. Nhìn vào CCSD phòng ban chúng ta hoàn toàn có thể thấy tầm quan trọng cũng như mức độ ảnh hưởng tới doanh nghiệp của phòng ban đó

2.3. CCSP có giống KPI không?

CCSP - Central Control System of Company có nghĩa là bộ điều khiển trung tâm từng nhân sự. Bản chất CCSP sẽ bao gồm Nội Quy, Mô tả công việc, Khối lượng công việc, Chất lượng công việc... của nhân sự tại vị trí đó vậy nên KPI (khối lượng và hiệu quả công việc) sẽ chỉ là 1 phần trong CCSP. Ngoài ra nhìn vào CCSP có thể giúp CEO cài được chiến lược đến từng nhân sự bằng những con số bao gồm khối lượng hiệu quả cũng nhưng hạn mức quỹ lương cho vị trí đó.

2.4. KPI là gì?

KPI, trong tiếng Anh gọi là "Key Performance Indicator" là chỉ số đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của một bộ phận trong một công ty hoặc sự vận hành của cả công ty. Mỗi bộ phận trong công ty sẽ có những chỉ số KPI khác nhau.

Từ năm 2005, khái niệm BSC đã bắt đầu được một số doanh nghiệp chú ý và tìm cách tiếp cận. Tuy nhiên, phải đến năm 2010, BSC mới thực sự được nhiều doanh nghiệp áp dụng với tư cách là một công cụ quản trị. Đi đầu là các doanh nghiệp trong hệ thống ngân hàng, tiếp đến là các doanh nghiệp lớn như FPT, Phú Thái, Viettel, Xi Măng Hà Tiên 1, VNPT…

Thông thường, phải mất 3 năm doanh nghiệp mới có thể vận hành BSC hiệu quả, trong khi đó phần lớn doanh nghiệp Việt mới ở bước đầu của việc tiếp cận và áp dụng nên việc đánh giá hiệu quả của BSC sẽ tùy thuộc vào từng đơn vị. Có những doanh nghiệp có thể nhìn ngay thấy hiệu quả (thường xảy ra ở các doanh nghiệp lớn, có trình độ quản lý tốt), nhưng có những doanh nghiệp không vượt qua được khó khăn của giai đoạn ban đầu nên buộc phải dừng lại.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại trên, trong đó nhận thức của chủ doanh nghiệp về BSC còn nhiều hạn chế, chính là yếu tố đầu tiên. Việc nhận thức lơ mơ, nửa vời và không đúng thực tế khiến nhiều chủ doanh nghiệp chỉ chăm chăm nhìn vào thẻ điểm để xem nhân viên có hoàn thành công việc không rồi từ đó đánh giá, trả lương, trong khi BSC là công cụ quản lý giúp doanh nghiệp hiểu rõ tầm nhìn và chiến lược, từ đó biến chúng thành những hành động cụ thể. Nguyên nhân lớn nhất khiến doanh nghiệp không thể triển khai BSC thành công là do trình độ quản lý yếu kém. Doanh nghiệp chỉ có thể làm BSC tốt nếu họ có trình độ quản lý tốt. Người đứng đầu doanh nghiệp cần phải biết chính xác rằng, BSC có thực sự phù hợp với hệ thống của mình hay không thì mới triển khai, chứ không nên chạy theo phong trào để rồi đứt gánh giữa đường.

Tìm hiểu về phương pháp ứng dụng BSC vào doanh nghiệp tại đây:

https://ceovietnam.edu.vn/trang-chuong-trinh-chuyen-giao-ceo-quan-tri-40.html?soure=GG